Viêm tuyến tiền liệt là gì? Dấu hiệu và cách chữa trị hiệu quả nhất

Viêm tuyến liền liệt là bệnh lý được chẩn đoán nhiều nhất ở bệnh nhân nam đã trưởng thành và cũng hay gặp ở người cao tuổi. Theo quan niệm thông thường, viêm tuyến tiền liệt cấp tính hay mạn tính đều do vi khuẩn gây nên. Nhận định này đúng với viêm tuyến tiền liệt cấp tính, nhưng trong một số lớn viêm tuyến tiền liệt mạn tính, nhiều nghiên cứu không phát hiện thấy có vi khuẩn. Vì vậy, “Nhóm hợp tác quốc tế nghiên cứu bệnh viêm tuyến tiền liệt” (IPCN) năm 1998, đã đề xuất một phân loại mới, bao gồm các thể bệnh viêm tuyến tiền liệt mạn tính có vi khuẩn và thể không có vi khuẩn. Vậy viêm tuyến tiền liệt là gì? Dấu hiệu và cách chữa trị hiệu quả nhất. Mời bạn tham khảo bài viết sau đây.

Viêm tuyến tiền liệt là gì?

Về phương diện dịch tễ học, so với hai bệnh khác là u phì đại tuyến tiền liệt và ung thư tuyến tiền liệt bệnh viêm tuyến tiền liệt chưa được chú ý đúng mức đây là một thiếu sót lớn, vì có đến một nửa số nam giới có hiện tượng viêm tuyến tiền liệt một vài lần trong suốt cuộc đời của họ. Bệnh thường diễn biến trong thời gian dài và ảnh hướng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Viêm tuyến tiền liệt là tình trạng nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm tuyến tiền liệt, biểu hiện bằng nhiều hội chứng với những đặc điểm lâm sàng khác nhau. Đây là một bệnh viêm tuyến tiền liệt ở nam giới khi có biểu hiện viêm nhiễm vùng tuyến và tổ chức đệm của tuyến. Nếu điều trị không được triệt để sẽ dẫn tới áp xe tuyến tiến liệt.

Nguyên nhân gây viêm tuyến tiền liệt phần lớn do vi khuẩn gram âm như Escherichia coli, đôi khi cũng gặp các loại vi khuẩn đường ruột khác như Proteus vulgaris, Klebsiella, Pneumonie, Enterocoque. Nguyên nhân do Gonocoque hiện nay rất hiếm gặp ở châu Âu. Ngược lại tại các nước Châu Á trong đó có Việt Nam chủng loại này vẫn phải lưu ý cảnh giác. Đường vào của các vi khuẩn chủ yếu từ niệu đạo: hoặc do nhiễm khuẩn ở niệu đạo sau các quan hệ tình dục. Hoặc do nhiễm khuẩn niệu đạo vì nhiễm khuẩn nước tiểu do tắc ở đường dẫn tiểu phía dưới, cũng có thể do các thầy thuốc làm các thủ thuật và đưa vi khuẩn vào; rất hiếm thấy những trường hợp viêm tuyến tiền liệt cấp tính lan truyền từ đường máu.

Dấu hiệu của viêm tuyến tiền liệt

viem tuyen tien liet
viem tuyen tien liet

Để theo dõi diễn biến và tiên lượng của viêm tuyến tiền liệt, IPCN giới thiệu bảng “chỉ số các triệu chứng viêm tuyến tiền liệt mạn tính” gồm 9 câu hỏi với 43 điểm nêu lên các triệu chứng đau (21 điểm), rối loạn tiểu tiện (10 điểm) và chất lượng cuộc sống (12 điểm).

Dưới đây là phân loại viêm tuyến tiền liệt theo IPCN:

  • Viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn.
  • Viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn.
  • Viêm tuyến tiền liệt mạn tính không do vi khuẩn (đồng nghĩa với đau mạn tính vùng chậu) bao gồm: có viêm, không viêm.
  • Viêm tuyến tiền liệt không có triệu chứng.

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn

Vi khuẩn gây bệnh thường thuộc nhóm gram âm ái khí, hay gây nhiễm khuẩn nước tiểu, đứng đầu là E. Coli (80% các trường hợp nhiễm khuẩn). Các vi khuẩn gây bệnh khác bao gồm Pseudomonas aeruginosa, Serratia, Klebsiella và Proteus (10-15%), Enterococcus (5-10%). Ngoài Enterococcus, các vi khuẩn gram dương khác có thể gặp là Staphylococcus aureus, dễ lây nhiễm khi thông đái, các vi khuẩn kị khí ít gặp. Thông thường chỉ có một loại vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên trong một số trường hợp có nhiều vi khuẩn phối hợp.

Quá trình hoạt động của vi khuẩn gây ra viêm tuyến tiền liệt

Vi khuẩn đi ngược dòng nước tiểu dễ gây viêm nhiễm từ niệu đạo đi vào tắc ống tuyến tiền liệt. Người ta nhận thấy vùng ngoại vi của tuyến tiền liệt khác với vùng trung tâm, dễ bị viêm nhiễm. Vì các ống tuyến được bố trí theo bình diện ngang, nên dễ bị trào ngược và ứ đọng nước tiểu. Ngoài ra, tuyến tiền liệt cũng có thể bị viêm nhiễm từ trực tràng theo đường bạch huyết.

Chẩn đoán viêm tuyến tiền liệt cấp tính thường không khó khăn, vì các triệu chứng lâm sàng khá rõ nét. Bệnh khởi phát với sốt cao, rét run, người bệnh cảm thấy rất khó chịu, đau cơ, đau khớp xương, đau tầng sinh môn, đau lưng phần thấp, đau hạ vị, đau tức ở vùng tầng sinh môn, quanh trực tràng, kèm theo đái khó, đái rắt; khó chịu, đau khắp các cơ bắp; nước tiểu sẫm màu và đục, ít khi lẫn máu. Thăm trực tràng có thể phát hiện tuyến tiền liệt sưng to, nóng và đau nhói. Vì vậy, cần thăm khám nhẹ nhàng.

Xét nghiệm máu cho thấy bạch cầu tăng; xét nghiệm nước tiểu thường phát hiện nhiều bạch cầu, hồng cầu và vi khuẩn gây bệnh. Nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ giúp cho việc điều trị có hiệu quả.

viem tuyen tien liet o nam gioi
viem tuyen tien liet o nam gioi

Để chẩn đoán viêm tuyến tiền liệt cấp tính cần dựa vào

  • Các triệu chứng lâm sàng
  • Các xét nghiệm cận lâm sàng để tìm nguyên nhân gây bệnh :
Lấy bệnh phẩm

Xét nghiệm nước tiểu phân đoạn có ích trong chẩn đoán viêm tuyến tiền liệt:

  • Những ml nước tiểu đầu tiên (lấy 10ml nước tiểu đầu tiên) của bãi đái có tác dụng rửa niệu đạo, là đại diện của nước tiểu của niệu đạo được gọi là V1. Lượng vi khuẩn tăng lên gợi ý viêm niệu đạo.
  • 200ml nước tiểu tiếp theo bỏ đi và lấy 15ml nước tiểu ở giữa bãi V2: nước tiểu của bàng quang. Lượng vi khuẩn tăng trong V2 gợi ý viêm bàng quang, không phải viêm tuyến tiền liệt.
  • Cho bệnh nhân nhịn đái; dùng ngón tay ma sát kích thích tuyến tiền liệt; hứng từ lỗ sáo niệu đạo chất dịch của tuyến tiền liệt chảy ra (expressed prostatic secretion – EPS).
  • Dùng ngón tay ma sát kích thích tuyến tiền liệt. Sau đó cho bệnh nhân tự đái, lấy 10ml nước tiểu sau khi ma sát tuyến tiền liệt (V3). Mục đích như dùng nước tiểu rửa niệu đạo. Trong nước tiểu đó sẽ có các chất dịch của tuyến tiền liệt. Nước tiểu lấy được có thể dùng trực tiếp hoặc quay ly tâm lắng cặn. Tìm thấy vi khuẩn trong EPS và V3 chứng tỏ là của tuyến tiền liệt.

Phân tích chất dịch chảy ra từ tuyến tiền liệt sẽ thấy:

  • Có hiện tượng viêm sẽ thấy có sự hiện diện của bạch cầu với số lượng cao trong một vi trường.
  • Có sự hiện diện của vi khuẩn qua các phương pháp nhuộm, nuôi cấy.
  • Giảm đậm độ bài tiết spermin phosphatase acid và cholesterol
  • Nước tiểu bị kiềm hoá kèm theo sự thay đổi thăng bằng của các loại enzym LDH.
Dùng các phương pháp xét nghiệm về miễn dịch học

Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA).

Chẩn đoán hình ảnh
  • Siêu âm qua ổ bụng để đánh giá lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang, sơ bộ đánh giá tuyến tiền liệt.
  • Siêu âm qua trực tràng: Các đặc điểm là dày vỏ bao và sỏi tuyến tiền liệt, Có những đám giảm âm ở vùng xung quanh niệu đạo, với âm đồng nhất, có thể thấy túi tinh to và dày vách túi tinh.
  • Siêu âm màu: ở viêm tuyến tiền liệt cấp tính, có sự gia tăng rõ rệt về màu sắc ở vùng niệu đạo tuyến tiền liệt, xung quanh ống dẫn tinh và sát túi tinh.
  • Chụp cắt lớp vi tính khung chậu có thể giúp xác định thêm áp xe hoặc ung thư.
  • Soi bàng quang để theo dõi những trường hợp dai dẳng, phân biệt ung thư bàng quang hoặc viêm bàng quang kẽ.
  • Chụp niệu đồ tĩnh mạch hoặc chụp bàng quang niệu đạo khi đi tiểu để đánh giá đường bài xuất ở những bệnh nhân có chức năng thận tốt.
benh viem tuyen tien liet
benh viem tuyen tien liet

Viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn

Các vi khuẩn gây bệnh trong viêm tuyên tiền liệt mạn tính cũng chính là các vi khuẩn gây bệnh trong viêm tuyến tiền liệt cấp tính, nghĩa là các vi khuẩn gram âm và Euterococcus. Vai trò của các Mycoplasma, Ureaplasma và Chlamydia chưa được khẳng định và không đáng kể

Sự trào ngược nước tiểu vào các ống tuyến giúp cho vi khuẩn tồn tại lâu dài trong các nang tuyến tiền liệt. Các nguyên nhân khác giúp cho vi khuẩn bám trụ ở tuyến tiền liệt là tính chất kiềm của dịch tuyến tiền liệt làm cản trở sự hấp thụ các kháng sinh. Ngoài ra, chất kẽm tự do có tính sát trùng mạnh lại thiếu hụt ở bệnh nhân bị viêm tuyến tiền liệt mạn tính.Vi khuẩn có thể tạo nên những màng bám vào thành ống tuyến và túi nang ngăn cản sự thâm nhập của kháng sinh. Sau cùng sỏi trong tuyến tiền liệt cũng giúp cho vi khuẩn tồn tại an toàn tại chỗ.

Chẩn đoán: dựa trên sự tái phát của các triệu chứng đã gặp trong viêm tuyến tiền liệt cấp tính, như đau tức vùng tầng sinh môn, đái khó, đái rắt, đái nhiều lần ban đêm. Có thể có những đợt kịch phát kèm theo sốt cao, rét run, mệt mỏi toàn thân. Thăm trực tràng cho phép phát hiện tuyến tiền liệt hơi to, đau lúc ấn sâu. “Nghiệm pháp 4 cốc” cho thấy mẫu D và M3 có gấp 10 lần số lượng vi khuẩn so với mẫu M1 và M2. Số lượng bạch cầu ở dịch tuyến tiền liệt cũng trên 10 trong một vi trường. Viêm bàng quang tái phát thường là do viêm tuyến tiền liệt.

Viêm tuyến tiền liệt mạn tính không do vi khuẩn

Còn được gọi là “Hội chứng đau mạn tính vùng chậu”. Hội chứng này bao gồm những trường hợp có viêm (có nhiều bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt) và những trường hợp không có viêm (không có bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt). Trong các bệnh cảnh có viêm, immunoglobulin trong dịch tuyến tiền liệt thường tăng cao.

Vai trò của Chlamydia, Ureaflasma và Mycoplasma chưa được xác định.

Cơ chế gây bệnh: trong hội chứng này thường được giải thích là do trào ngược dòng nước tiểu vào các ống tuyến kéo theo các chất urat, creatinin tạo nên hiện tượng viêm do nguyên nhân hoá chất, hội chứng này có thể là do rối loạn chức năng ở cổ bàng quang và niệu đạo dưới sự kích thích quá mức giải phóng adrenalin trong khu vực, nguyên nhân tự miễn cũng có thể xảy ra vì các protein bình thường của tuyến tiền liệt của bệnh nhân có sự đáp ứng với các tế bào T.

Viêm tuyến tiền liệt không có triệu chứng

Cũng rất hay gặp, vì có thể thấy viêm tuyến tiền liệt trong các bệnh phẩm lấy từ sinh thiết do các bệnh khác của tuyến tiền liệt hoặc lấy từ tử thi.

Nhiều tác giả nhận định là viêm tuyến liền liệt có triệu chứng hay không có triệu chứng là một nguyên nhân của vô sinh nam.

Điều trị viêm tuyến tiền liệt

Dựa vào các thể viêm tuyến tiền liệt khác nhau được phân loại theo IPCN mà ta có các cách điều trị khác nhau.

dieu tri benh viem tuyen tien liet
dieu tri benh viem tuyen tien liet

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính nếu được điều trị kịp thời thường có hiệu quả tốt và không để lại biến chứng. Trước hết, bệnh nhân cần nằm nghỉ trên giường. Ngâm toàn bộ bộ phận sinh dục và hậu sản vào nước ấm, uống nước đầy đủ, uống thuốc giảm đau. Trước khi có kết quả kháng sinh đồ, cần dùng các loại kháng sinh chống vi khuẩn gram âm và Enterococcus, đồng thời đặc hiệu với tuyến tiền liệt, ví dụ sulfamethoxazole – trimethoprim hoặc fluoro- quinolon. Lúc có kết quả của kháng sinh đồ, cần điều trị theo kháng sinh có nhạy cảm trong 4 đến 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao, bí đái hoặc có bệnh nặng khác kèm theo, cần phải cho nằm viện và nếu cần dẫn lưu nước tiểu bằng catheter ở trên xương mu.

Cần theo dõi định kì để tránh các biến chứng, chủ yếu là apxe tuyến tiền liệt và bệnh chuyển thành mạn tính. Apxe tuyến tiền liệt, chủ yếu do E. coli, những triệu chứng rầm rộ, sốt cao 40°C, đau dữ dội vùng tầng sinh môn, bí đái cấp. Nếu thăm trực tràng, có thể phát hiện một ổ mủ lùng nhùng trước trực tràng. Siêu âm cần thiết để củng cố chẩn đoán và chọc hút mủ qua trực tràng. Tiên lượng có thể dè dặt, nếu điều trị không kịp thời và nếu bệnh nhân suy nhược do tuổi cao hay có các bệnh nặng kèm theo.

Trong trường hợp đã có biến chứng:

  • Dẫn lưu bàng quang
  • Dẫn lưu ổ áp xe qua đường hậu môn, trực tràng.
  • Dẫn lưu ổ áp xe qua nội soi
  • Chọc hút ổ áp xe theo sự định hướng của siêu âm.

Viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn

Điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính thường khó khăn, kéo dài và kết quả thất thường, vì vi khuẩn có khả năng bám trụ lâu dài trong tuyến và sự thâm nhập kháng sinh để diệt chúng rất bị hạn chế do tính chất kiềm của dịch tuyến tiền liệt.

Các thuốc kháng sinh được lựa chọn cần đạt những tiêu chuẩn sau: hoà tan trong lipit, ít kết hợp với protein của huyết tương và không bị ion hoá. Thông thường điều trị bằng các loại fluoro- quinolon rất có hiệu quả. Các loại thuốc khác là: sulfamethoxazole-trimethoprim, doxycyalin, amikacin, carbenidllin. Điều trị trong thời gian từ 3 đến 4 tháng để đạt kết quả.

Tuy nhiên, một số tác giả chỉ điều trị trong 4 tuần khi dùng fluoroquinolcm. Nếu bệnh còn tái phát, thì cần tiếp tục loại trừ các vi khuẩn trong nước tiểu bằng sử dụng các kháng sinh sau: nitrofurantoin (100mg/ngày), sulfamethoxazole – trimethoprim (400mg/80mg/ngày), ciprofloxacin (250mg/ngày). Điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính bằng cắt nội soi ít khi được dùng, trừ khi có ổ nhiễm khuẩn hoặc sỏi tuyến tiền liệt, làm cho việc điều trị nội khoa không có kết quả. Sau phẫu thuật cần tiếp tục điều trị bằng kháng sinh từ 6-8 tuần.

Viêm tuyến tiền liệt mạn tính không do vi khuẩn

Vì nguyên nhân của hội chứng này rất đa dạng, nên việc điều trị phải thích ứng với từng trường hợp. Thông thường nên điều trị một đợt kháng sinh, đặc biệl fluoroquinolon. Nếu thấy có vai trò của Chlamydia, có thể dùng các thuốc tetracyclin, doxycyclin hay erythromycin. Điều trị kháng sinh trong nhiều tuần. Các thuốc chẹn alpha có tác dụng làm giảm trương lực cơ trơn, hạn chế trào ngược nước tiểu vào các ống tuyến – có thể dùng allopurinol, một chất ức chế xanthin oxidaza, có khả năng giảm bớt các tác hại hoá chất trong nước tiểu đối với tuyến tiền liệt (Persson) sau cùng điều trị bằng lý liệu pháp cũng có thể đem lại kết quả tốt trong một số trường hợp.

Trong các hội chứng viêm tuyến liền liệt, viêm tuyến tiền liệt thể u hạt (granulomatous prostatitis) có thể có nguyên nhân vi khuẩn, virut, hay có nguyên nhân không đặc hiệu. Mô tuyến có thể bị bạch cầu ưa eosin xâm nhiễm. Các triệu chứng xuất hiện như một viêm tuyến tiền liệt cấp tính. Thăm khám trực tràng, tuyến tiền liệt có mật độ rắn chắc, dễ gây nhầm lẫn với ung thư tuyến tiền liệt. Sinh thiết sẽ giúp cho việc chẩn đoán chính xác. Việc điều trị bằng kháng sinh hoặc corticosteroid sẽ đạt kết quả tốt.

Viêm tuyến tiền liệt có nguy hiểm không?

viem tuyen tien liet co nguy hiem khong
viem tuyen tien liet co nguy hiem khong

Viêm tuyến tiền liệt nếu được điều trị đúng quy cách bệnh sẽ khỏi, các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng sẽ tốt dần, ngược lại nếu điều trị không đúng hoặc để lâu dần sẽ để lại nhiều biến chứng sau:

  • Toàn thân
  • Viêm nội mạc cơ tim
  • Nhiễm khuẩn huyết
  • Tại chỗ
  • Bí đái cấp tính
  • Áp xe tuyến tiền liệt
  • Viêm tinh hoàn
  • Viêm mào tinh hoàn
  • Viêm tuyến tiền liệt tái phát nếu như những chỗ tắc hoặc chít hẹp phía dưới đường dẫn tiểu chưa được giải quyết.

Viêm tuyến tiền liệt xuất hiện lần đầu tiên thì điều trị tích cực bằng kháng sinh có tiên lượng tốt. Sau điều trị thì việc theo dõi là cần thiết để chắc chắn triệt tiêu bệnh và cần liên tục chăm sóc để tránh bệnh tái phát.

Tóm lại, viêm tuyến tiền liệt là một bệnh phổ biến, nhưng hình thái và nguyên nhân rất đa dạng. Đối với bệnh viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn, cần sử dụng kháng sinh đặc hiệu và điều trị trong thời gian đủ dài để tránh biến chứng. Đối với viêm tuyến tiền liệt mạn tính, ngoài các thuốc kháng sinh. Cần chú ý sử dụng nhiều biện pháp điều trị khác để đáp ứng với một bệnh lý chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và có nguyên nhân đa dạng. Mong rằng qua bài viết viêm tuyến tiền liệt là gì? Dấu hiệu và cách chữa trị hiệu quả nhất, các bạn đã có những kiến thức bổ ích cũng như biết cách chữa trị bệnh tốt nhất. Chúc các bạn luôn có sức khỏe tốt.

 

Free WordPress Themes, Free Android Games